Quy mô đầu tư lớn, hướng đến tự chủ công nghệ ngành đường sắt
Theo đề xuất của VNR, dự án Tổ hợp công nghiệp đường sắt quốc gia sẽ được triển khai trên diện tích khoảng 250 ha tại các huyện Phú Xuyên và Ứng Hòa, Hà Nội. Tổng mức đầu tư dự kiến lên đến 17.509 tỷ đồng, sử dụng hoàn toàn vốn nhà nước dưới hình thức tăng vốn điều lệ tại doanh nghiệp nhà nước. Dự án bao gồm các hạng mục chính như: nhà máy sản xuất – lắp ráp đầu máy, toa xe; trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D); trung tâm sửa chữa, bảo trì; hạ tầng kết nối với mạng lưới đường sắt quốc gia và hệ thống công trình phụ trợ.
Điểm nổi bật là tổ hợp này hướng tới làm chủ toàn bộ chuỗi sản xuất các đoàn tàu có tốc độ dưới 200 km/h và hệ thống tàu điện đô thị – vốn là các phân khúc đang thiếu hụt năng lực nội địa hóa. Đồng thời, tổ hợp sẽ thực hiện nghiên cứu, tiếp nhận và nội địa hóa công nghệ trong lĩnh vực phần mềm điều khiển, thông tin tín hiệu, hệ thống cấp điện và phụ kiện ngành đường sắt.
Nếu được phê duyệt trong năm 2025, dự án sẽ được chuẩn bị đầu tư trong vòng 1 năm và triển khai xây dựng trong 3 năm, dự kiến hoàn thành giai đoạn I vào năm 2029.
Sửa chữa toa xe tại nhà máy xe lửa Gia Lâm. Ảnh: Ngọc Thành
Kỳ vọng nội địa hóa 80% đến năm 2050
Tổ hợp được chia thành các giai đoạn đầu tư cụ thể, với lộ trình nội địa hóa ngày càng sâu rộng:
• Giai đoạn 2029–2031: Lắp ráp đầu máy điện, đầu máy sử dụng năng lượng sạch; sản xuất toa xe khách tốc độ dưới 160 km/h; lắp ráp đoàn tàu EMU (điện động lực phân tán) cho các tuyến đường sắt đô thị; sản xuất toa xe hàng tốc độ 120 km/h cho tuyến Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.
• Giai đoạn 2032–2035: Làm chủ sản xuất toa xe khách, toa xe hàng dưới 160 km/h; lắp ráp đầu máy điện với tỷ lệ nội địa hóa đạt khoảng 30%; sản xuất phụ tùng, vật tư thay thế và linh kiện cho các hạng mục thông tin, tín hiệu, kết cấu hạ tầng đường sắt.
• Đối với tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam: Tổ hợp sẽ tham gia lắp ráp các đoàn tàu EMU theo mô hình hợp đồng mua sắm – chuyển giao công nghệ, với mục tiêu đến năm 2035 làm chủ công nghệ lắp ráp và đạt 20% nội địa hóa.
• Giai đoạn 2040–2050: Hướng tới sản xuất 80% vật tư, linh kiện và thiết bị của đoàn tàu tốc độ cao, đồng thời làm chủ các hạng mục phục vụ khai thác, bảo trì tuyến đường sắt trục Bắc – Nam.
Dự kiến, tổ hợp sẽ đạt doanh thu hơn 228.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2030–2050, với lợi nhuận bình quân khoảng 1.141 tỷ đồng/năm, khả năng hoàn vốn trong 16 năm – một con số khả quan đối với một dự án công nghiệp quy mô lớn, có thời gian hoàn vốn dài hạn.
Thị trường đường sắt: Cơ hội vàng cho nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ
Theo tính toán, từ nay đến năm 2050, tổng giá trị các hoạt động đầu tư, nâng cấp và phát triển mạng lưới đường sắt Việt Nam (bao gồm đường sắt quốc gia, đô thị và tốc độ cao) ước tính lên tới 275 tỷ USD. Đây là “mỏ vàng” để phát triển một hệ sinh thái công nghiệp đường sắt hoàn chỉnh, bao gồm:
• Nhóm tư vấn, thiết kế, quản lý dự án;
• Nhóm công nghiệp xây dựng công trình đường sắt;
• Nhóm công nghiệp đầu máy – toa xe – phụ tùng;
• Nhóm công nghiệp tín hiệu, thông tin, tự động hóa;
• Nhóm công nghiệp hệ thống điện kéo và năng lượng.
Tổ hợp công nghiệp đường sắt không chỉ là cơ sở sản xuất, mà còn là “trái tim công nghệ”, nơi tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến từ các đối tác quốc tế, tổ chức nghiên cứu – phát triển, thử nghiệm và kiểm định các giải pháp, thiết bị mới phục vụ toàn ngành.
Đề xuất chính sách đặc thù: Đòn bẩy để phát triển ngành cơ khí trọng điểm
Để tạo điều kiện thuận lợi cho dự án và thúc đẩy ngành công nghiệp đường sắt phát triển mạnh mẽ, VNR đã kiến nghị Chính phủ xem xét áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù. Cụ thể:
1. Đưa các sản phẩm ngành đường sắt (đầu máy, toa xe, đoàn tàu EMU, thiết bị tín hiệu…) vào danh mục sản phẩm cơ khí trọng điểm quốc gia để được hưởng các ưu đãi đầu tư, tín dụng, thuế và xúc tiến thương mại.
2. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng tổ hợp bằng cách ưu tiên đấu thầu, cung cấp linh kiện, phụ tùng, dịch vụ kỹ thuật.
3. Bổ sung các thiết bị, dây chuyền công nghệ đường sắt vào danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, đặc biệt là các công nghệ liên quan đến điện khí hóa, vật liệu nhẹ, tự động hóa điều khiển, hệ thống an toàn…
4. Đưa sản phẩm công nghệ cao ngành đường sắt vào danh mục ưu tiên đầu tư phát triển, hỗ trợ doanh nghiệp trong nghiên cứu – phát triển (R&D) và thương mại hóa các sản phẩm ứng dụng trong giao thông thông minh.
5. Phối hợp quy hoạch sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật và phân khu chức năng tại các địa phương để bảo đảm tiến độ xây dựng tổ hợp, tránh tình trạng chồng chéo quy hoạch.
Trong hơn một thập kỷ qua, ngành đường sắt Việt Nam gần như “đứng ngoài” cuộc đua hiện đại hóa hạ tầng giao thông. Phương tiện lạc hậu, công nghệ lỗi thời, tỷ lệ nội địa hóa thấp và phụ thuộc nhập khẩu khiến ngành gặp nhiều khó khăn. Dự án Tổ hợp công nghiệp đường sắt quốc gia được kỳ vọng sẽ tạo nên cú hích chiến lược, thay đổi cục diện ngành bằng cách chủ động làm chủ sản xuất, tạo ra chuỗi giá trị nội địa và phát triển đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật lành nghề cho lĩnh vực giao thông vận tải hiện đại.
Việc triển khai tổ hợp còn mang ý nghĩa lớn về an ninh công nghệ, giảm phụ thuộc nhập khẩu thiết bị từ nước ngoài, đặc biệt trong các dự án đường sắt đô thị tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh hay tuyến tốc độ cao Bắc – Nam trong tương lai.